Pháp luật doanh
nghiệp Việt Nam quy định 2 hình thức doanh nghiệp trong đó chủ sở hữu phải chịu
trách nhiệm vô hạn về tài sản, đó là loại hình doanh nghiệp tư nhân và công ty
hợp danh. Chủ sở hữu của công ty hợp danh (là các thành viên hợp danh) và chủ sở
hữu doanh nghiệp tư nhân đều chỉ được phép thành lập 1 doanh nghiệp duy nhất, bởi
2 loại hình doanh nghiệp này không có sự tách bạch giữa tài sản công ty và tài
sản của chủ sở hữu. Cũng vì lí do đó, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh
đều không được phép phát hành chứng khoán hay trái phiếu.
Tuy có nhiều điểm
tương đồng như vậy, nhưng về bản chất 2 loại hình doanh nghiệp này là hoàn toàn
khác nhau. Sau đây, tôi xin chỉ ra những điểm khác biệt cơ bản nhất giữa công
ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.
Thứ nhất, sự khác biệt về số lượng thành viên
Đây là điểm dễ thấy
nhất khi so sánh công ty hợp danh với doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp tư
nhân chỉ có một “thành viên” duy nhất, là người thành lập doanh nghiệp, chủ sở
hữu doanh nghiệp, đồng thời nắm toàn bộ số vốn góp. Trong khi đó, công ty hợp
danh được gắn với số nhiều, tức là luôn có ít nhất 2 thành viên là thành viên hợp
danh, và đồng thời là chủ sở hữu của công ty. Ngoài ra, công ty hợp danh còn có
thể có cả những thành viên góp vốn, là những người chỉ góp vốn chứ không tham
gia điều hành công ty, và chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã góp vào
công ty.
Thứ hai, sự khác nhau về tư cách pháp nhân
Pháp luật doanh
nghiệp quy định công ty hợp danh có tư cách pháp nhân, còn doanh nghiệp tư nhân
thì không có tư cách pháp nhân.
Theo quy định của
pháp luật dân sự, thì một tổ chức chỉ có tư cách pháp nhân khi đáp ứng đủ các
điều kiện sau: được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức theo quy định của
pháp luật; có tài sản độc lập và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;
nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp lý.
Như vậy, doanh
nghiệp tư nhân không có đủ tư cách pháp nhân bởi tài sản của nó đồng nhất với
tài sản của chủ doanh nghiệp. Công ty hợp danh cũng không hoàn toàn tách biệt
giữa tài sản của công ty với tài sản của các chủ sở hữu công ty trong trường hợp
công ty có một khoản nợ hay nghĩa vụ tài sản khác. Tuy nhiên, khi góp vốn thành
lập công ty hợp danh, thì các thành viên hợp danh phải chuyển quyền sở hữu vốn
góp của mình cho công ty hợp danh, tức là đã đảm bảo sự riêng biệt giữa vốn góp
vào công ty và tài sản riêng của các thành viên hợp danh. Bởi thế công ty hợp
danh vẫn được coi là pháp nhân trong quan hệ pháp luật.
Thứ ba, sự khác biệt về người đại diện theo pháp luật
Người đại diện
theo pháp luật của doanh nghiệp tư nhân tất nhiên là chủ doanh nghiệp tư nhân. đây
là người đại diện theo pháp luật duy nhất của doanh nghiệp. Ngay cả khi doanh
nghiệp tư nhân thuê người quản lý doanh nghiệp, thì chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn
là người đại diện cho doanh nghiệp về mặt pháp lý. Trái lại, công ty hợp danh có
thể có nhiều người đại diện theo pháp luật. Các thành viên hợp danh đều là người
đại diện theo pháp luật của công ty hợp danh.
Thứ tư, sự khác biệt về cơ cấu tổ chức
Vì hoạt động gắn
liền với một chủ thể duy nhất là chủ doanh nghiệp, nên doanh nghiệp tư nhân có
cơ cấu tổ chức khá đơn giản. Chủ doanh nghiệp có thể đồng thời làm Giám đốc hoặc
Tổng giám đốc để trực tiếp điều hành, quản lý doanh nghiệp, hoặc cũng có thể
thuê Giám đốc, Tổng giám đốc để thay mình làm những công việc này.
Còn trong công ty
hợp danh, cơ cấu tổ chức phức tạp hơn so với doanh nghiệp tư nhân. Các thành
viên hợp danh và thành viên góp vốn thành lập nên Hội đồng thành viên, với Chủ
tịch Hội đồng thành viên là một thành viên hợp danh được các thành viên khác bầu
lên. Các thành viên hợp danh là những người chủ yếu trong việc điều hành công
ty hợp danh, còn các thành viên góp vốn chỉ đóng góp ý kiến chứ không được biểu
quyết đối với các quyết định của công ty.
Trên đây là một số
điểm khác biệt cơ bản giữa công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. Rất mong
nhận được những ý kiến đóng góp của các bạn!

Nhận xét
Đăng nhận xét