Những vấn đề pháp lý cơ bản về công ty hợp danh


Trong nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển mạnh mẽ và đa dạng, thì việc ra đời nhiều hình thức doanh nghiệp, nhiều hình thức kinh doanh là một điều hoàn toàn dễ hiểu. Công ty hợp danh là một trong số các loại doanh nghiệp cơ bản hiện nay và được pháp luật doanh nghiệp Việt Nam điều chỉnh. Sau đây, tôi xin đưa ra một số quy định cơ bản của pháp luật đối với loại hình công ty này.

Khái niệm công ty hợp danh và thành viên của công ty hợp danh

Công ty hợp danh là loại hình doanh nghiệp mà trong đó có từ 2 thành viên trở lên cùng làm chủ sở hữu. Những thành viên này gọi là những thành viên hợp danh. Luật Doanh nghiệp hiện hành quy định những thành viên hợp danh phải là cá nhân và phải chịu trách nhiệm tài sản vô hạn đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty.

Ngoài ra, công ty hợp danh còn có thể có các thành viên góp vốn. Các thành viên góp vốn là những người góp vốn vào công ty nhưng không phải là chủ sở hữu công ty, và chỉ phải chịu trách nhiệm tài sản trong phạm vi số vốn đã góp đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty.

Quy định về thành viên của công ty hợp danh chính là đặc trưng nổi bật để phân biệt giữa công ty hợp danh với các loại hình doanh nghiệp khác được công nhận và điều chỉnh trong Luật Doanh nghiệp hiện hành.

Công ty hợp danh không được phát hành chứng khoán

Đây là một quy định đặt ra đối với công ty hợp danh trong Luật Doanh nghiệp 2014. Sở dĩ công ty hợp danh không được phép phát hành chứng khoán là bởi các thành viên hợp danh, cũng là chủ sở hữu công ty, phải chịu trách nhiệm tài sản vô hạn và liên đới lẫn nhau đối với các nghĩa vụ của công ty, tài sản của các thành viên hợp danh cũng đồng thời là tài sản của công ty. Việc phát hành chứng khoán, mục đích chính là nhằm kêu gọi vốn góp từ bên ngoài, bởi vậy đòi hỏi phải có sự độc lập giữa tài sản của chủ sở hữu công ty với tài sản của công ty, nếu không sẽ không đảm bảo được sự rõ ràng, chắc chắn về quyền lợi của người góp vốn. Bởi vậy, mặc dù là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân được pháp luật công nhận, nhưng công ty hợp danh lại không được phép phát hành các loại chứng khoán.

Vốn của công ty hợp danh

Công ty hợp danh không được phát hành chứng khoán, nên vốn của công ty hợp danh chỉ có thể được tăng lên dựa vào việc gia tăng số lượng vốn góp của các thành viên hợp danh và thành viên góp vốn.
Nếu một thành viên hợp danh có nhu cầu chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn góp của mình cho một người khác, thì việc chuyển nhượng đó phải được tất cả các thành viên hợp danh khác đồng ý. Người được chuyển nhượng phải là cá nhân và đáp ứng được các điều kiện luật định đối với thành viên hợp danh của công ty hợp danh thì mới được công nhận là thành viên hợp danh. Còn đối với thành viên góp vốn, họ có thể chuyển nhượng vốn góp của mình mà không phải được sự đồng ý của tất cả các thành viên hợp danh hay phải đáp ứng yêu cầu đối với người được chuyển nhượng.

Ngoài ra, pháp luật doanh nghiệp còn quy định nếu như một thành viên hợp danh chết, thì người thừa kế của thành viên đó chỉ được phép trở thành thành viên hợp danh khi ít nhất là ba phần tư tổng số thành viên hợp danh đồng ý.

Như vậy có thể thấy, công ty hợp danh là một loại hình công ty khá đặc biệt. Việc có nhiều chủ sở hữu cùng chịu trách nhiệm vô hạn về tài sản bên cạnh những mặt tích cực thì cũng đem lại nhiều rủi ro. Do vậy, trước khi thành lập một công ty hợp danh, cần phải có sự nghiên cứu kĩ càng về bản chất pháp lý và những quy định đối với loại hình doanh nghiệp này.

Trên đây là những hiểu biết cơ bản của tôi về công ty hợp danh. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các bạn!


Nhận xét