Trong thương mại
quốc tế, khi muốn đưa một loại hàng hóa, dịch vụ ra nước ngoài, thì cần phải đi
qua các “cổng” thuế quan như thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt,...
Đây là một hình thức vừa nhằm bảo vệ hàng hóa, dịch vụ trong nước của quốc gia
nhập khẩu, vừa là một hình thức tăng nguồn thu cho ngân sách quốc gia đó.
Tuy nhiên,
trong trường hợp lưu thông trong Khu vực thương mại tự do, hàng hóa, dịch vụ
không phải nộp thuế khi đi từ một quốc gia này sang một quốc gia khác. Vậy cụ
thể Khu vực thương mại tự do là gì? Và nó có những đặc điểm gì? Sau đây tôi xin
đưa ra một số kiến thức cơ bản của tôi về Khu vực thương mại tự do.
Khu vực thương mại tự do là gì?
Khu vực thương mại tự do (FTA) hay
còn gọi là Khu vực mậu dịch tự do, là
một khối thương mại bao gồm từ hai quốc gia trở lên. Khu vực thương mại tự do
được hình thành khi các quốc gia này thỏa thuận, thống nhất với nhau về việc
bãi bỏ tất cả thuế xuất nhập khẩu và các hạn chế phi thuế quan đối với thương
mại hàng hóa qua lại giữa các nước này nhưng vẫn giữ nguyên thuế quan đối với
nước khác.
Những nội dung chính được quy định áp dụng trong Khu vực thương mại tự do
Để được hưởng
những ưu đãi đã thỏa thuận áp dụng trong Khu vực thương mại tự do, các quốc gia
phải kí kết các hiệp định thương mại tự do. Nội
dung cơ bản của các hiệp định thương mại tự do này bao gồm: Tự do hóa
thương mại hàng hóa; tự do hóa thương mại dịch vụ; tự do hóa đầu tư; thúc đẩy hợp
tác kinh tế giữa các nước tham gia kí kết hiệp định và một số cam kết khác về sở
hữu trí tuệ, tiếp cận thị trường, bí mật, bản quyền…
Cụ thể, một hiệp
định thương mại tự do FTA thường quy định về quy tắc xuất xứ, về việc cắt giảm
các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, về danh mục mặt hàng đưa vào cắt giảm
thuế quan, và về lộ trình cắt giảm thuế quan (là khoảng thời gian mà các quốc
gia cam kết việc cắt giảm thuế quan có hiệu lực, thông thường, khoảng thời gian
này kéo dài không quá 10 năm).
Các loại Khu vực thương mại tự do
Tùy vào từng căn cứ khác nhau mà Khu vực thương mại tự do FTA
được phân thành nhiều lọai khác nhau.
Căn cứ vào quy mô số lượng thành
viên tham gia, Khu vực thương mại
tự do FTA được chia thành: FTA song phương (được
hình thành bởi hiệp định thương mại tự do giữa hai quốc gia với nhau), FTA khu
vực (được hình thành bởi hiệp định
thương mại tự do giữa các quốc gia trong cùng một khu vực)
và FTA hỗn hợp (được hình thành bởi
hiệp định thương mại tự do giữa nhiều quốc gia, không phụ thuộc vào khu vực).
Dựa vào mức độ tự do hóa thì Khu vực thương mại tự do FTA được chia thành: FTA kiểu Mỹ, FTA kiểu
Châu Âu và FTA kiểu các nước đang phát triển. Theo đó, FTA kiểu Mỹ là cao nhất, trong đó các thành viên
đều phải cam kết mở cửa mọi lĩnh vực thương mại. FTA kiểu Châu Âu là cũng là Khu
vực thương mại tự do có mức độ tự do hóa khá cao, với các lĩnh vực mở cửa là do
các quốc gia thỏa thuận cam kết, do vậy số lượng các lĩnh vực trong thương mại
tự do cũng khá lớn. FTA kiểu các nước đang phát triển thì chú trọng hầu hết vào
các lĩnh vực thương mại liên quan đến hàng hóa, ít chú trọng vào dịch vụ, đầu
tư, sở hữu trí tuệ.
Trên đây là những
khái niệm và hiểu biết cơ bản về Khu vực thương mại tự do FTA. Rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp của các bạn!

Nhận xét
Đăng nhận xét