Thỏa thuận trọng
tài thương mại là một hình thức giải quyết tranh chấp dựa trên sự tự nguyện của
các bên tranh chấp, nhưng có sự can thiệp của một bên thứ ba. Tuy nhiên, điều
này không có nghĩa là thỏa thuận trọng tài sẽ luôn có hiệu lực khi các bên đạt
được sự thống nhất. Một thỏa thuận trọng tài có hiệu lực chỉ khi nó đáp ứng được
các điều kiện mà pháp luật quy định.
Sau đây tôi xin
đưa ra những điều kiện mà pháp luật quy định về thỏa thuận trọng tài, đồng thời
cũng là điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài.
Thứ nhất, quy định về phạm vi tranh chấp
Pháp luật luôn tôn trọng sự thỏa thuận của các bên trong việc
đưa tranh chấp thương mại ra giải quyết tại trọng tài. Tuy nhiên, dù các bên có
tồn tại thỏa thuận trọng tài nhưng tranh chấp giữa họ không thuộc phạm vi hoạt
động thuộc thẩm quyền của trọng tài thì thỏa thuận trọng tài cũng vô hiệu. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng
tài được pháp luật quy định tại Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010, bao gồm:
Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong
đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết
bằng trọng tài.
Rõ ràng cách quy định như trên đã mở rộng thẩm quyền của trọng
tài ở một mức độ nhất định,
không quá rộng cũng không quá hẹp. Đồng thời quy đinh này cũng giải quyết được sự mâu thuẫn, chồng chéo ở các văn
bản pháp luật khác nhau quy định về thẩm quyền của trọng tài bằng cách quy định
cho phép trọng tài giải quyết các tranh chấp không phát sinh từ hoạt động
thương mại nhưng được pháp luật khác quy định được giải quyết bằng trọng tài.
Thứ hai, điều kiên về thẩm quyền người xác lập thỏa thuận trọng tài
Phương thức
giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có nhiều ưu điểm và ngày càng đóng vai trò
quan trọng trong nền kinh tế phát triển, nhưng, không phải mọi tranh chấp đều có thể giải quyết được bằng
trọng tài. Thỏa thuận trọng tài chỉ có hiệu lực pháp lý ràng buộc các bên khi được ký kết bở người có thẩm quyền ký kết
thỏa thuận trọng tài.
Người ký thỏa thuận trọng tài phải là người có quyền quyết định
phương thức giải quyết tranh chấp hoặc là người được ủy quyền. Khi thỏa thuận
trọng tài được ký bởi người không có thẩm quyền thì thỏa thuận đó không thể hiện
ý chí đích thực của các bên. Do đó, thỏa thuận trọng tài sẽ không còn ý nghĩa.
Thứ ba, điều kiện về năng lực chủ thể
Thỏa thuận trọng tài là sự tự do thể hiện ý chí của các bên
trên cơ sở tự nguyện. Chính vì vậy, chỉ có những người có đầy đủ năng lực hành
vi dân sự mới có khả năng thể hiện ý chí của mình một cách chính xác và toàn diện.
Khoản 2, Điều 18 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy đinh thỏa thuận trọng tại
vô hiệu khi “người xác lập thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự
theo quy định của Bộ luật dân sự”, thỏa thuận trọng tài xét về bản chất là
hợp đồng dân sự, vì vậy năng lực hành vi dân sự của chủ thể xác lập thỏa thuận
trọng tài là một yếu tố quan trọng để xác định hiệu lực của thỏa thuận trọng
tài đó. Và nếu người xác lập thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân
sự đầy đủ thì đương nhiên thỏa thuận đó không phát sinh hiệu lực.
Thứ tư, điều kiện về ý chí tự nguyện của chủ thể
Thỏa thuận trọng tài là một loại hợp đồng trong đó ý chí tự
nguyện của chủ thể đóng vai trò là một nguyên tắc quan trọng trong quá trình
xác lập. Thỏa thuận trọng tài
sẽ không có giá trị pháp lý nếu nó không phải là kết quả của sự thống nhất ý
chí giữa các chủ thể hay là sự áp đặt của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào.
Dựa trên cơ sở thống nhất ý chí, các bên thỏa thuận về các yếu tố liên quan đến
quá trình giải quyết tranh chấp: tổ chức trọng tài, hình thức trọng tài, ngôn
ngữ, địa điểm… và các nội dung khác phù hợp với lợi ích của các bên.
Trong một số trường hợp, thỏa thuận trọng tài được các bên
chứng mình rằng họ bị ép buộc, lừa dối hay nhẫn tâm khi ký thỏa thuận trọng tài
và yêu cầu tòa án tuyên bố hủy thỏa thuận trọng tài.
Thứ năm, về hình thức của thỏa thuận trọng tài
Trong các điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, điều
kiện về hình thức được coi là một điều kiện hết sức cơ bản. Hình thức của thỏa
thuận trọng tài là sự thể hiện bên ngoài sự thống nhất ý chí của các bên tham
giá quan hệ thương mại. Nhìn chung, pháp luật trọng tài của hầu hết các nước
trên thế giới đều quy định thỏa thuận trọng tài phải được thể hiện dưới dạng
văn bản. Quy định này đã trở
thành một tập quán quốc tế chung bởi chỉ có thể thể xác lập bằng văn bản mới tạo
ra sự tin tưởng cho các bên, đồng thời là cơ sở ràng buộc trách nhiệm của các
bên khi phát sinh tranh chấp.
Thứ sáu, về vi phạm điều cấm của pháp luật.
Khoản 6, Điều 18 Luật trọng tài thương mại 2010 đưa ra quy định
mới về điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài. Theo đó, thỏa thuận trọng
tài vô hiệu khi vi phạm điều cấm của pháp luật. Bởi về bản chất, thỏa thuận trọng
tài được xem như một hợp đồng. BLDS 2015 đã quy định vi phạm điều cấm của pháp luật là một trong những trường
hợp làm cho hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên cần quy định cụ thể khái niệm “vi phạm
điều cấm của pháp luật” tránh tình trạng một bên lạm dụng quy định này để yêu cầu
hủy quyết định trọng tài.
Trên đây là một số
điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài theo hiểu biết của tôi. Rất mong
nhận được những ý kiến đóng góp của các bạn!

Nhận xét
Đăng nhận xét