Thuế thu nhập
cá nhân là một trong những nguồn thu thường xuyên của ngân sách nhà nước. Đây
là khoản thu đánh vào thu nhập của các cá nhân thuộc sự quản lý của Nhà nước,
và có thu nhập đáp ứng điều kiện mà Nhà nước quy định là phải nộp thuế.
Theo pháp luật
thuế hiện hành, thì định
nghĩa về thuế thu nhập cá nhân chưa được quy định cụ thể, mà được hiểu một cách
gián tiếp
thông qua những quy định khác về thuế thu nhập cá nhân như: đối tượng nộp thuế,
thu nhập chịu thế, thu nhập được miễn thuế, giảm thuế và căn cứ tính thuế... Qua đó, ta có thể định nghĩa về thuế thu nhập cá
nhân là khoản thuế trực thu tính trên thu
nhập chính đáng của từng cá nhân.
Vậy, loại thuế này có những đặc điểm như thế nào? Sau đây, với những hiểu
biết của mình, tôi xin đưa ra những đặc điểm về thuế thu nhập cá nhân.
Thuế thu nhập cá nhân là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp
Người nộp thuế sau khi nộp thuế sẽ không được nhận sự hoàn trả ngay lập tức
từ phía Nhà nước. Sự hoàn trả ngay lập tức ở đây có thể là sự cung ứng hàng hóa
hay dịch vụ tương ứng với số tiền mình đã nộp. Thay vì cung cấp sự hoàn trả trực
tiếp này, thì khoản đóng góp mà người nộp đã nộp vào Nhà nước sẽ được sử dụng để
xây dựng những công trình công cộng, cải thiện cơ sở hạ tầng,... vì lợi ích
chung, và như vậy, người nộp sẽ được hoàn trả một cách gián tiếp.
Thuế thu nhập cá nhân luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia
Đây là loại thuế trực tiếp gắn liền với các cá nhân – là thành phần chính tạo
nên một xã hội. Do đó, nó luôn gắn với sự quản lý về mặt xã hội của Nhà nước. Nhà nước có thể
sử dụng thuế thu nhập cá nhân để thể hiện sự khuyến khích của
mình đối với các cá nhân để điều chỉnh năng suất làm việc, hay mức độ nghỉ ngơi
bằng cách điều chỉnh biểu thuế. Ví dụ, khi Nhà nước muốn tăng mức độ làm việc của
người lao động, muốn khuyến khích người lao động làm thêm giờ thì có thể điều chỉnh bằng cách giảm mức thuế hoặc không
đánh thuế đối với thu nhập từ việc làm thêm giờ. Hoặc ngược lại, nếu Nhà nước
muốn khuyến khích nghỉ ngơi thì có thể tăng mức thuế đối với khoản thu nhập
này. Nhà
nước cũng có thể khuyến khích người dân đầu tư hay không đầu tư, tiết kiệm hay
không tiết kiệm thông qua việc đánh thuế hay không đánh thuế thu nhập đối với
thu nhập từ hoạt động đầu tư, thu nhập từ lãi tiết kiệm.
Thuế thu nhập cá nhân có diện thu thuế rất rộng
Có thể khẳng định thuế thu nhập cá nhân có diện thu thuế rộng, bởi đối tượng nộp thuế này là tất cả các
cá nhân có thu nhập chịu thuế, bao gồm cả công dân Việt Nam
và người nước ngoài cư trú thường xuyên tại Việt Nam. Theo quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân hiện hành, thì người cư trú
thường xuyên tại Việt Nam là người có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong một năm kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam,
có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam.
Thuế thu nhập cá nhân được tính theo nguyên tắc lũy tiến từng phần
Nguyên tắc lũy tiến từng phần là nguyên tắc tính thuế mà đối với mỗi khoản
thu nhập ở một mức nhất định, thuế suất sẽ là khác nhau. Theo đó, thu nhập tính thuế thu nhập cá nhân được chia thành nhiều
bậc, mỗi bậc sẽ có mức thuế suất khác nhau, thu nhập tính thuế càng cao, thì
thuế suất cũng sẽ càng cao. Số thuế phải nộp sẽ được tính bằng tích của thu nhập
tính thuế nhân với mức thuế suất tương ứng với thu nhập tính thuế đó.
Theo pháp luật
hiện hành, biểu lũy tiến từng phần được quy định cụ thể như sau:
|
Bậc thuế
|
Thu nhập tính thuế/năm (triệu đồng)
|
Thu nhập tính thuế/tháng (triệu đồng)
|
Thuế suất (%)
|
|
1
|
Đến 60
|
Đến 5
|
5
|
|
2
|
Trên 60 đến 120
|
Trên 5 đến 10
|
10
|
|
3
|
Trên 120 đến 216
|
Trên 10 đến 18
|
15
|
|
4
|
Trên 216 đến 384
|
Trên 18 đến 32
|
20
|
|
5
|
Trên 384 đến 624
|
Trên 32 đến 52
|
25
|
|
6
|
Trên 624 đến 960
|
Trên 52 đến 80
|
30
|
|
7
|
Trên 960
|
Trên 80
|
35
|
Trên đây là một số đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân theo hiểu biết của
tôi. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ các bạn!

Nhận xét
Đăng nhận xét