Thỏa thuận trọng
tài là một hình thức giải quyết tranh chấp khá phổ biến trong hoạt động thương
mại. Không những đảm bảo tính linh hoạt của việc giải quyết tranh chấp, thỏa
thuận trọng tài còn đảm bảo sự chủ động của các bên trong tranh chấp.
Do sự phổ biến
cũng như tính định đoạt của hình thức giải quyết tranh chấp này, nên Luật Trọng
tài thương mại đã ra đời để điều chỉnh những vấn đề cơ bản, tránh sự lạm dụng
hình thức thỏa thuận trọng tài để trục lợi cho một bên trong tranh chấp. Tuy nhiên,
dù đã được quy định cụ thể, Luật Trọng tài thương mại vẫn còn có một vài điểm hạn
chế. Sau đây, tôi xin chỉ ra những hạn chế đó, đồng thời nêu một số ý kiến hoàn
thiện như sau:
Thứ nhất, về thời điểm có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài
Thỏa thuận trọng tài có thể tồn tại dưới một trong hai dạng đó là: điều khoản trọng tài nằm trong hợp đồng hoặc thỏa thuận trọng tài
riêng biệt. Khi là điều khoản trọng tài nằm trong hợp đồng thì thời điểm có hiệu
lực của thỏa thuận trọng tài cũng đồng thời là thời điểm có hiệu lực của hợp đồng.
Nhưng khi là một thỏa thuận trọng tài riêng biệt thì thời điểm có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài lại không
được xác định trong Luật Trọng tài thương mại hiện hành. Đây là một thiếu
sót bởi thời điểm có hiệu lực có vai trò quan trọng trong thỏa thuận trọng
tài, đó là thời điểm các bên chịu sự ràng buộc và phải thực hiện nghĩa vụ phát
sinh từ thỏa thuận trọng tài. Vì vậy cần bổ sung thêm quy định về thời điểm có
hiệu lực để làm rõ vấn đề này.
Thứ hai, chưa có chế tài trong trường hợp một bên không thực hiện đúng thỏa thuận trọng tài đã xác lập
Thỏa thuận trọng tài được xác lập dựa trên thỏa thuận của
các bên, bởi vậy, các bên
hoàn toàn được tự do lựa chọn trước khi đưa ra quyết định. Vì thế, mỗi bên cần
tôn trọng quyết định của chính mình thể hiên ở việc thực hiện nghiêm chỉnh thỏa
thuận trọng tài. Tuy nhiên, không phải
trong mọi trường hợp, các bên sau khi đã thỏa thuận đều thực hiện đúng theo những
gì mình đã cam kết. Nhưng trong Luật Trọng tài thương mại hiện hành, vẫn chưa
có một chế tài nào được quy định để xử lý trường hợp đó. Pháp luật nên
quy định chế tài để phạt đối với cho bên không thực hiện đúng thỏa thuận để răn
đe, tránh tình trạng bội ước. Về bản chất, thỏa thuận trọng tài cũng được xem
là hợp đồng, khi vi phạm nghĩa vụ đã thỏa thuận trọng tài, cũng giống như hợp đồng
nên cần có quy định về chế
tài để đảm bảo lợi ích của các bên.
Thứ ba, về luật áp dụng cho thỏa thuận trọng tài
Thỏa thuận trọng tài hoàn toàn độc lập so với hợp đồng nên luật áp dụng cho thỏa thuận trọng
tài và luật áp dụng đối với hợp
đồng là độc lập với nhau. Khi thỏa thuận trọng tài là một điều khoản trong hợp
đồng thì thông thường luật áp dụng cho hợp đồng cũng chính là luật áp dụng cho thỏa thuận trọng tài. Nhưng khi thỏa thuận
trọng tài ở dạng một thỏa thuận riêng biệt thì vấn đề trở nên phức tạp hơn nhiều, nhất là đối với các hợp đồng thương mại quốc tế. Các bên khi xác lập thỏa
thuận trọng tài nên thỏa thuận
rõ về vấn đề này để tránh rắc rối có thể
phát sinh sau này. Pháp luật không quy định rõ vấn đề này tuy nhiên sự thỏa thuận
này hoàn toàn hợp lý. Do đó, pháp luật cần quy định rõ về vấn đề này, theo đó tạo
cơ sở pháp lý cho phép các bên tự do lựa chọn luật áp dụng cho thỏa thuận trọng
tài.
Trên đây là một số
ý kiến của tôi về việc hoàn thiện các quy định pháp luật về thỏa thuận trọng
tài thương mại. Rất mong nhận được những nhận xét của các bạn!

Nhận xét
Đăng nhận xét