Bảo lãnh là một
trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong giao dịch dân sự. Bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ bằng biện pháp bảo lãnh được thực hiện bằng cách bên bảo
lãnh (bên thứ ba trong giao dịch) cam kết với bên có quyền rằng sẽ thực hiện
nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ nếu bên có nghĩa vụ thực hiện không đúng,
không đầy đủ nghĩa vụ đã giao kết. Bên có quyền, trong bảo lãnh, sẽ còn được gọi
là bên nhận bảo lãnh, và bên có nghĩa vụ thì còn được gọi là bên nhận bảo lãnh.
Bảo lãnh ngân
hàng, cũng là một hình thức của bảo lãnh trong dân sự, nhưng lại mang cả tính
chất đặc thù của ngành ngân hàng. Theo đó, hình thức bảo lãnh ngân hàng được thực
hiện như sau: ngân hàng với vai trò là bên bảo lãnh, sẽ đứng ra cam kết với bên
nhận bảo lãnh rằng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính nếu như bên được bảo lãnh
không thực hiện nghĩa vụ này đúng và đầy đủ khi đến hạn.
Thực tế cho thấy,
hình thức bảo lãnh ngân hàng luôn được ưu tiên sử dụng hơn so với các hình thức
bảo lãnh với các chủ thể khác. Vậy bảo lãnh ngân hàng có những điểm gì khác so
với các hình thức bảo lãnh khác? Sau đây tôi xin đưa ra những quan điểm của
mình về vấn đề này.
Bảo lãnh ngân hàng vừa là một hình thức đảm bảo thực hiện nghĩa vụ, vừa là một loại giao dịch thương mại mang tính chất đặc thù
Là một hình thức
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, nhưng cũng đồng thời thu lợi nhuận từ việc đó, nên
bảo lãnh ngân hàng có thể coi như là một hoạt động kinh doanh. Hình thức bảo
lãnh này được thực hiện như một loại dịch vụ mà chỉ có ngân hàng mới có thể thực
hiện. Mục đích của nó cũng là để thu lợi nhuận và được tổ chức thực hiện một
cách chuyên nghiệp. Tính chất thương mại của hình thức này cũng được khẳng định
trên phương diện pháp luật khi quy định đây là một trong những hoạt động bắt buộc
phải đăng ký kinh doanh.
Do vừa mang tính
chất bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, vừa mang tính chất thương mại, nên trong bảo
lãnh ngân hàng, ngân hàng không chỉ là bên bảo lãnh, mà còn là một nhà kinh
doanh. Vì thế, việc quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng bảo lãnh
trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng cũng không giống hoàn toàn với quyền và nghĩa
vụ của người bảo lãnh trong quan hệ bảo lãnh trong dân sự. Ví dụ, người bảo
lãnh trong quan hệ bảo lãnh dân sự thông thường có quyền đưa ra chứng cứ về việc
mình không biết khả năng hoàn trả của người được bảo lãnh như thế nào để từ đó
xin tòa án hủy bỏ hợp đồng bảo lãnh, trong khi đối với bảo lãnh ngân hàng, tổ
chức tín dụng không thể đưa ra chứng cứ này vì họ chính là nhà kinh doanh
chuyên nghiệp nên buộc phải biết trước tình hình tài chính của khách hàng xin bảo
lãnh trước khi quyết định kí kết hợp đồng dịch vụ bảo lãnh với khách hàng.
Việc bảo lãnh ngân hàng sẽ tạo lập nên hai hợp đồng: hợp đồng dịch vụ bảo lãnh và hợp đồng bảo lãnh
Vì đây là mối
quan hệ ba bên, trong đó ngân hàng là bên thứ ba, cũng là bên cung cấp dịch vụ,
do đó việc bảo lãnh ngân hàng sẽ được thể hiện qua hợp đồng dịch vụ bảo lãnh giữa
ngân hàng với bên được bảo lãnh, và hợp đồng bảo lãnh giữa ngân hàng và bên nhận
bảo lãnh. Hai hợp đồng này vừa có mối quan hệ nhân quả lại vừa độc lập với
nhau. Mối quan hệ nhân quả thể hiện ở chỗ thỏa thuận từ hợp đồng dịch vụ bảo
lãnh mới phát sinh ra nghĩa vụ bảo lãnh của ngân hàng và hợp đồng bảo lãnh. Tính
độc lập thì lại được thể hiện ở chỗ hợp đồng này vô hiệu không làm cho hợp đồng
kia vô hiệu, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng này cũng không phụ
thuộc vào quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng kia. Bảo lãnh ngân hàng
luôn tạo lập ra hai loại hợp đồng, nên ta có thể gọi giao dịch bảo lãnh ngân
hàng là một giao dịch “kép”.
Bảo lãnh ngân hàng là hình thức bảo lãnh vô điều kiện và không thể đơn phương hủy ngang
Có thể khẳng định
điều này vì đây là hình thức bảo lãnh mà bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đối
với người nhận bảo lãnh ngay sau khi người đó xuất trình các chứng từ phù hợp với
nội dung của cam kết bảo lãnh do bên bảo lãnh phát hành mà không phụ thuộc vào
việc người được bảo lãnh có khả năng tự thực hiện nghĩa vụ của họ hay không. Nhờ
tính chất này, bảo lãnh ngân hàng luôn bảo đảm chắc chắn lợi ích cho người nhận
bảo lãnh.
Bên cạnh tính được
thực hiện vô điều kiện, bảo lãnh ngân hàng còn có tính không thể hủy ngang. Sau
khi cam kết bảo lãnh một cách hợp lệ, thì cam kết này sẽ không thể bị đơn
phương hủy bỏ bởi ngân hàng, trừ khi người nhận bảo lãnh đồng ý. Đây là một tính
chất đã được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và cũng được thừa nhận rộng rãi
nhưng chưa được quy định chính thức trong pháp luật Việt Nam.
Nhờ có tính chất
được thực hiện vô điều kiện và tính chất không thể hủy ngang, bảo lãnh ngân
hàng luôn đảm bảo lợi ích tốt nhất cho bên nhận bảo lãnh, do đó luôn nhận được nhiều
sự tin tưởng, ưu tiên của bên nhận bảo lãnh hơn so với bảo lãnh của các chủ thể
khác.
Trên đây là những
quan điểm của tôi, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ các bạn!

Nhận xét
Đăng nhận xét