Cầm giữ tài sản không phải là một biện
pháp mới trong quy định của pháp luật dân sự Việt Nam. Tuy nhiên, theo những
văn bản pháp luật cũ, thì nó chưa từng được chính thức công nhận như là một biện
pháp bảo đảm trong giao dịch. Chỉ khi Bộ Luật Dân sự 2015 được ban hành, thì cầm
giữ tài sản mới được quy định là một trong những biện pháp bảo đảm trong giao dịch
dân sự.
Biện pháp này có những đặc điểm gì? Sau
đây tôi xin đưa ra 3 đặc điểm chính của biện pháp cầm giữ tài sản:
Có thể được áp dụng mà không cần sự thỏa thuận của các bên
Trong giao dịch dân sự, các bên đều có
quyền cầm giữ tài sản để đảm bảo bên kia thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Đây
là một biện pháp bảo đảm đã được pháp luật thừa nhận, do đó, khi bên đang giữ
tài sản thấy bên còn lại làm không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của mình, thì
bên giữ tài sản hoàn toàn có quyền giữ tài sản lại mà không phải có sự thỏa thuận
hay cho phép nào. Tuy nhiên, biện pháp này sẽ không được phép áp dụng nếu như
trước đó các bên đã thỏa thuận không áp dụng biện pháp này trong giao dịch.
Ta có thể thấy rõ đăch điểm này qua ví dụ
sau: A là chủ cửa hàng sửa chữa xe máy, B là khách hàng sửa xe. B mang xe đến
giao cho A sửa và hẹn sau 1 ngày sẽ đến lấy xe. Tuy nhiên, khi quay lại lấy xe
B lại không mang đủ tiền để thanh toán. Như vậy, theo quy định của pháp luật, A
hoàn toàn có thể giữ xe lại cho đến khi B trả đầy đủ tiền sửa xe mà không cần
phải thỏa thuận trước về biện pháp bảo đảm này. Đây là điểm đặc biệt mà chỉ duy
nhất biện pháp cầm giữ tài sản mới có.
Muốn thực hiện quyền cầm giữ tài sản thì phải đáp ứng được 3 yếu tố nhất định
Quyền cầm giữ tài sản chỉ có thể được thực
hiện nếu như trong giao dịch cần đảm bảo đó có những yếu tố sau:
Thứ nhất, vật bị cầm giữ là vật thuộc sở
hữu của bên có nghĩa vụ (theo ví dụ như trên thì là B, nên sau đây có thể gọi
là bên B), nhưng lại đang bị cầm giữ bởi bên có quyền (theo ví dụ như trên thì
là A, nên sau đây có thể gọi là bên A). Và theo hợp đồng giao dịch, bên A sẽ phải
giao lại tài sản đó cho bên B, hoặc cho một bên khác mà bên B chỉ định.
Thứ hai, tài sản bị cầm giữ phải đảm bảo
cho nghĩa vụ mà bên B, tức chủ sở hữu tài sản, phải thực hiện; đồng thời, nghĩa
vụ đó cũng phải trực tiếp phát sinh từ tài sản đó. Như ở ví dụ trên, thì nghĩa
vụ thanh toán phát sinh trực tiếp từ việc sửa chữa tài sản bị cầm giữ là chiếc
xe.
Thứ ba, bên B chưa thực hiện nghĩa vụ
theo đúng cam kết, từ đó phát sinh ra việc cầm giữ tài sản. Việc chưa thực hiện
đúng nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản chứ không phải là bất kỳ một thỏa thuận
hay hành vi nào khác là cơ sở để thực hiện biện pháp cầm giữ tài sản.
Đây là một biện pháp bảo đảm có nhiều điểm chung với biện pháp cầm cố
Có thể thấy được nhiều điểm tương đồng,
thậm chí là trùng khớp giữa biện pháp cầm giữ tài sản và biện pháp cầm cố tài sản,
như cùng là biện pháp bảo đảm sử dụng tài sản, hay cùng là việc bên có quyền giữ
tài sản thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ,... Do đó, có thể dẫn chiếu một vài
quy định đối với biện pháp cầm cố như quy định về việc xử lý tài sản bị giữ,
quy định về việc bảo quản tài sản bị giữ,...
Như vậy, có thể thấy được mặc dù là một
biện pháp bảo đảm mới được thêm vào, nhưng cầm giữ tài sản không phải là một
hình thức mới trong đời sống cũng như trong pháp luật. Những đặc điểm nêu trên
có thể chỉ rõ điều đó.
Trên đây là những hiểu biết của tôi về
những đặc điểm của biện pháp cầm giữ tài sản. Rất mong nhận được những ý kiến
đóng góp của các bạn!

Nhận xét
Đăng nhận xét