Quyền sở hữu trí
tuệ cũng là một phần của quyền dân sự, và nó là một loại quyền đặc biệt, vừa có
thể là quyền nhân thân, nhưng cũng vừa có thể là quyền tài sản. Quyền sở hữu
trí tuệ là quyền nhân thân trong một số trường hợp như: quyền đặt tên cho tác
phẩm của tác giả, quyền công bố hay cho phép người khác công bố tác phẩm của
tác giả,..., nhưng nó lại là quyền tài sản trong những trường hợp khác như: quyền
định đoạt đối tượng sở hữu công nghiệp (nhãn hiệu, sáng chế...) của chủ sở hữu
đối tượng công nghiệp, quyền sao chép tác phẩm và làm tác phẩm phái sinh của
tác giả,...
Đối với những trường
hợp quyền sở hữu trí tuệ là quyền tài sản, thì cũng như các loại quyền tài sản
khác, nó có thể được chuyển nhượng từ chủ thể này sang chủ thể khác. Việc chuyển
nhượng đó đối với quyền tài sản của quyền tác giả thì được gọi là chuyển nhượng
quyền tác giả, nhưng đối với chuyển nhượng các quyền trong sở hữu công nghiệp,
thì việc chuyển nhượng đó sẽ được gọi bằng một từ khá đặc biệt: li-xăng.
Li-xăng là gì?
Li-xăng là một từ
khá quen thuộc trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, mặc dù không hề được nhắc đến
trong Luật Sở hữu trí tuệ hay các văn bản pháp luật có liên quan hiện hành.
Li-xăng là một thuật ngữ được nhắc đến thường xuyên trong các thông tư, nghị định
về sở hữu trí tuệ trước đây, nhưng giờ nó đã được thay thế chính thức bằng một
cách gọi tuy dài nhưng rõ ràng hơn: chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp.
Chuyển nhượng quyền
sở hữu công nghiệp chính là việc chủ sở hữu hợp pháp của quyền sở hữu công nghiệp
đó chuyển giao quyền đó cho chủ thể khác. Sau khi chuyển giao, chủ sở hữu cũ sẽ
không còn bất kỳ quyền gì đối với các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp đó nữa,
mà tất cả các quyền sẽ thuộc về người được chuyển giao.
Mặc dù cách gọi “chuyển
nhượng quyền sở hữu công nghiệp” là rõ ràng, dễ hiểu hơn, nhưng từ “li-xăng” vẫn
được những người hoạt động liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ sử dụng nhiều
hơn bởi sự thuận tiện của nó.
Khi nào thì được li-xăng quyền sở hữu công nghiệp?
Thông thường, hầu
hết các quyền sở hữu công nghiệp đều có thể được chuyển nhượng từ chủ thể này
sang chủ thể khác, bởi đây là một quyền tài sản. Tuy nhiên, pháp luật về sở hữu
trí tuệ cũng quy định một vài trường hợp ngoại lệ, mà theo đó, quyền sở hữu
công nghiệp không được phép chuyển nhượng. Những trường hợp này được nêu tại Điều
139 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005, và có nội dung như sau:
1. Chỉ được chuyển
nhượng quyền sở hữu công nghiệp trong phạm vi được bảo hộ. Điều này có thể dễ
dàng hiểu được vì quyền sở hữu công nghiệp là một quyền phái sinh, tức là quyền
này không phải tự sinh ra, mà phụ thuộc vào đối tượng được bảo hộ. Do đó, nó chỉ
có hiệu lực trong phạm vi được bảo hộ.
2. Quyền đối với chỉ
dẫn địa lý. Mặc dù chỉ dẫn địa lý được công nhận là một đối tượng được bảo hộ
trong sở hữu công nghiệp, nhưng nó là một dấu hiệu chung chứ không thuộc sở hữu
của riêng ai. Do đó, nó không thể bị chuyển nhượng bởi bất cứ chủ thể nào.
3. Quyền đối với tên
thương mại không được phép chuyển nhượng mà không gắn với toàn bộ cơ sở kinh
doanh và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó. Bởi về bản chất, tên
thương mại là đại diện cho một doanh nghiệp cụ thể, luôn gắn liền với cơ sở
kinh doanh và hoạt động kinh doanh, không thể chuyển nhượng một cách tách biệt.
4. Không được chuyển
nhượng quyền sở hữu đối với nhãn hiệu khi việc đó có khả năng gây ra sự nhầm lẫn
về đặc tính, nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu; và cũng không được
chuyển nhượng khi chủ thể được chuyển nhượng không đáp ứng đủ điều kiện đối với
người có quyền đăng ký nhãn hiệu đó. Đây cũng là một điều dễ hiểu vì để một
nhãn hiệu được bảo hộ thì cần phải đáp ứng rất nhiều điều kiện của pháp luật,
trong đó có điều kiện về tính không gây nhầm lẫn và điều kiện về người có quyền
đăng ký nhãn hiệu.
Như vậy, li-xăng
không phải là một khái niệm xa lạ mà chính là việc chuyển nhượng đối với quyền
sở hữu công nghiệp. Và để có thể li-xăng một đối tượng sở hữu công nghiệp, thì
cần phải đảm bảo các điều kiện mà quy định pháp luật sở hữu trí tuệ đã đưa ra đối
với hoạt động này.


Nhận xét
Đăng nhận xét