Tìm hiểu về hoạt động quản lý thuế của Nhà nước

Thuế là khoản tiền mà các cá nhân, tổ chức phải nộp cho Nhà nước khi đáp ứng đủ các điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật. Đối với mỗi loại thuế khác nhau, chủ thể nộp thuế có những điều kiện đáp ứng khác nhau theo quy định của pháp luật. Ví dụ, chủ thể nộp thuế thu nhập cá nhân là các cá nhân có thu nhập mà pháp luật thuế thu nhập cá nhân xác định là thu nhập chịu thuế, còn chủ thể nộp thuế giá trị gia tăng thì là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hay nhập khẩu những hàng hóa, dịch vụ mà pháp luật thuế giá trị gia tăng xác định là đối tượng chịu thuế.

Mặc dù việc xác định người nộp thuế đối với mỗi loại thuế là khác nhau, nhưng nhìn chung, thuế là một khoản thu lớn và có phạm vi rất rộng, không chỉ ở trong nước, mà còn có cả những loại thuế thu ở ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam, như thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng cả với thu nhập phát sinh từ nước ngoài của doanh nghiệp có trụ sở ở Việt Nam. Do đó, quản lý thuế là một công việc tất yếu đối với Nhà nước để đảm bảo việc thu thuế hiệu quả.

Sau đây, tôi muốn chia sẻ những hiểu biết của mình về hoạt động quản lý thuế của Nhà nước:

Những hoạt động trong quản lý thuế

Theo như quy định của pháp luật hiện hành, cụ thể là Luật Quản lý thuế 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2012, thì hoạt động quản lý thuế bao gồm 8 công việc chính: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; Hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; Xoá nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt; Quản lý thông tin về người nộp thuế; Kiểm tra thuế, thanh tra thuế; Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; Xử lý vi phạm pháp luật về thuế; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế.

Như vậy, tham gia hoạt động quản lý thuế không chỉ có các cơ quan quản lý thuế mà còn có cả những chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế (tham gia qua hoạt động đăng ký thuế, khai thuế, khiếu nại, tố cáo về thuế...).


Cơ quan quản lý thuế và cơ quan có trách nhiệm trong quản lý thuế

Cơ quan quản lý thuế là cơ quan được xác định tại Khoản 2 Điều 2 Luật Quản lý thuế hiện hành, có quyền hạn và nghĩa vụ quản lý trực tiếp các hoạt động quản lý thuế như đã nêu ở trên. Cơ quan quản lý thuế trực tiếp theo luật định bao gồm: các cơ quan thuế (Tổng cục thuế, Cục thuế, Chi cục thuế), các cơ quan hải quan (Tổng cục hải quan, Cục hải quan, Chi cục hải quan), và người thực hiện việc quản lý thuế trong các cơ quan đó phải là công chức thuế, công chức hải quan.

Ngoài cơ quan thuế, cơ quan hải quan, còn có các cơ quan khác cũng có trách nhiệm nhưng không trực tiếp đối với việc quản lý thuế. Bộ Tài chính là cơ quan không trực tiếp quản lý nhưng đóng vai trò chỉ đạo cho các cơ quan quản lý thuế, quản lý việc thực hiện những quy định về thuế. Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm hỗ trợ, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về thuế trong phạm vi của mình. Ngoài ra còn có những cơ quan khác cũng tham gia hỗ trợ trong thực hiện quản lý thuế như Hội đồng tư vấn thuế cấp xã, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án... Các tổ chức, cá nhân cũng có trách nhiệm đối với hoạt động quản lý thuế thông qua các việc như chấp hành đúng các quy định về thuế, tố giác hành vi vi phạm quy định về thuế...


Như vậy, có thể nói quản lý thuế đòi hỏi sự tham gia của cả Nhà nước và xã hội. Đây là một hoạt động phức tạp, cần phải có một hệ thống cụ thể, chi tiết nhưng cũng linh hoạt để có thể thực hiện được một các trơn tru.

Tuy quy định về hoạt động quản lý thuế là như vậy, nhưng trên thực tế thất thoát về thuế vẫn là một vấn đề nhức nhối trong xã hội. Nhà nước cần phải phát triển hơn nữa hệ thống quản lý thuế, để đảm bảo công bằng đối với mọi đối tượng nộp thuế, cũng như đảm bảo nguồn thu cho đất nước.

Trên đây là những chia sẻ và ý kiến của tôi, rất mong nhận được những đóng góp, bình luận của các bạn!



Nhận xét