Thuật ngữ “chữ ký
điện tử” là một thuật ngữ không phải là mới, nhưng đối với nhiều người, chữ ký
điện tử vẫn là một khái niệm xa lạ, và cũng có nhiều người hiểu sai về khái niệm
này. Vậy bản chất chữ ký điện tử là gì? Và chữ ký điện tử được quy định trong
pháp luật như thế nào? Chữ ký điện tử được sử dụng trong những trường hợp nào
và không được sử dụng trong những trường hợp nào?
Sau đây tôi xin
được trình bày những hiểu biết của mình về chủ đề này.
Chữ ký điện tử là gì?
Nói một cách
chung nhất, chữ ký điện tử là một phương tiện dùng để thể hiện sự xác nhận của
một cá nhân thông qua một tập hợp các dữ liệu bằng phương tiện điện tử. Tuy sự
xuất hiện của chữ ký điện tử đã giúp cho việc xác nhận, ký kết giao dịch, giấy
tờ... dễ dàng và thuận tiện hơn, nhưng một vấn đề được đặt ra đối với nó, đó
chính là tính bảo mật, tính xác thực. Bởi, công nghệ hiện đại cũng luôn đi kèm
với những rủi ro cao như giả mạo, hoặc người ký không phải là người sở hữu chữ
ký... Vì thế, sử dụng chữ ký điện tử cũng cần phải cẩn trọng.
Quy định về chữ ký điện tử
Chữ ký điện tử được
quy định trong Luật Giao dịch điện tử năm 2005, và Nghị định 26/2007/NĐ-CP, được
sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 170/2013/NĐ-CP. Theo quy định của Luật Giao dịch
điện tử 2005, chữ ký điện tử có thể ở dạng từ, chữ, số, ký hiệu, âm thanh hoặc
hình thức khác, giúp xác nhận người ký thông điệp dữ liệu và xác nhận sự chấp
thuận của người đó đối với nội dung thông điệp dữ liệu được ký. Chữ ký điện tử
có thể coi là an toàn khi dữ liệu tạo ra nó chỉ gắn duy nhất cũng như chỉ thuộc
sự kiểm soát của người ký, đồng thời, những thay đổi của nó từ sau thời điểm ký
đều có thể bị phát hiện. Chữ ký điện tử có thể được chứng thực nếu như đã đảm bảo
độ an toàn theo quy định của pháp luật. Chứng thực chữ ký điện tử là việc công
nhận một chủ thể là người sử dụng chữ ký điện tử đó.
Chữ ký điện tử
cũng có giá trị pháp lý nhất định trong trường hợp thông điệp dữ liệu thể hiện
một văn bản mà pháp luật quy định văn bản đó phải có chữ ký. Hay trong trường hợp
thông điệp dữ liệu thể hiện một văn bản mà pháp luật quy định văn bản đó phải
có con dấu của cơ quan, tổ chức, chữ ký số của người có thẩm quyền sử dụng con
dấu cũng có giá trị pháp lý.
Ngoài ra, trong Luật
Giao dịch điện tử 2005 cũng quy định những nghĩa vụ của người ký chữ ký điện tử
và của người chấp nhận chữ ký điện tử. Đối với mỗi bên, pháp luật đều đề ra những
nghĩa vụ nhất định, trong đó có đặt ra vấn đề rủi ro, các biện pháp phòng tránh
rủi ro của các bên.
Chữ ký điện tử hiện
nay đã được đưa vào sử dụng khá phổ biến trong các giao dịch hiện đại, nhất là
giao dịch điện tử. Mặc dù những rủi ro có thể xảy ra, nhưng đây vẫn là một biện
pháp thuận lợi và nhanh chóng để thực hiện một giao dịch mà không cần thông qua
các loại giấy tờ. Tuy nhiên, người sử dụng cũng như người chấp nhận chữ ký điện
tử luôn phải tỉnh táo, cảnh giác để giảm thiểu những rủi ro cho cả hai phía.
Trên đây là những
ý kiến của tôi, rất mong nhận được sự đóng góp của các bạn!


Nhận xét
Đăng nhận xét