Phân biệt Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy phép kinh doanh
Giấy chứng nhận
đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký kinh danh, Giấy phép kinh doanh đều
là những loại giấy tờ dùng để chứng nhận sự tồn tại và hoạt động của một doanh
nghiệp. Chính vì vậy, 3 loại giấy tờ này rất hay bị nhầm lẫn với nhau. Tuy
nhiên, mỗi loại giấy tờ đều có những điểm riêng biệt. Sau đây, tôi sẽ nêu ra
các khái niệm cũng như sự khác nhau giữa Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp,
Giấy chứng nhận đăng ký kinh danh và Giấy phép kinh doanh.
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh chính là tờ giấy khẳng định sự tồn tại và hoạt động hợp pháp
của doanh nghiệp. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh giúp cơ quan nhà nước quản
lý doanh nghiệp, định hình được những thông tin cơ bản về doanh nghiệp. Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh bao gồm các nội dung như: tên, địa điểm trụ sở chính
hay chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp; các thông tin để xác nhận
người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; các thông tin để xác nhận tổ chức,
cá nhân là những người điều hành, quản lý doanh nghiệp; số vốn; ngành, nghề
kinh doanh.
Để được cấp Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh, thì doanh nghiệp chỉ cần đảm bảo có đủ các điều
kiện như pháp luật quy định.
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Tương tự như Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cũng là giấy
tờ giúp Nhà nước quản lý doanh nghiệp và khẳng định sự tồn tại hợp pháp của
doanh nghiệp. Đây là khái niệm được quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014. Theo đó,
“Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là
văn bản hoặc bản điện tử mà Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp cho doanh nghiệp ghi
lại những thông tin về đăng ký doanh nghiệp”.
Mặc dù có tác dụng
tương đương nhau trên lĩnh vực quản lý nhà nước, nhưng nội dung của Giấy chứng
nhận đăng ký doanh nghiệp cũng có một vài khác biệt so với Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh. Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp không còn bao gồm nội dung
ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp trong đó, và được thêm nội dung mã số
doanh nghiệp (chính là mã số thuế của doanh nghiệp). Đây có thể gọi là một sự cải
tiến đối với “giấy khai sinh” của doanh nghiệp, bởi, việc thêm mã số doanh nghiệp
vào Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp khiến cho việc quản lý doanh nghiệp trở
nên dễ dàng hơn, minh bạch hơn, chỉ cần tra mã số thuế là có thể biết được những
thông tin cơ bản về doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc bỏ thông tin về ngành, nghề
kinh doanh cũng tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp khi thay đổi về ngành, nghề
kinh doanh sẽ không phải cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nữa.
Nhưng cũng cần
lưu ý rằng, việc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp ra đời không có nghĩa là Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh mất giá trị hiệu lực. Doanh nghiệp đã được cấp Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh vẫn có thể sử dụng giấy này, hoặc thay đổi thành Giấy
chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo thủ tục pháp luật quy định.
Giấy phép kinh doanh
Giấy phép kinh
doanh (hay còn gọi là giấy phép con) là loại giấy tờ được cấp cho các doanh
nghiệp kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện (ví dụ như rượu, thuốc
lá...). Tức là, nó như một loại giấy chứng nhận một doanh nghiệp đủ điều kiện để
kinh doanh ngành, nghề đó. Nếu doanh nghiệp kinh doanh trong ngành, nghề kinh
doanh có điều kiện đã có đủ các điều kiện để đăng ký doanh nghiệp, có Giấy chứng
nhận đăng ký doanh nghiệp, nhưng không có Giấy phép kinh doanh, thì doanh nghiệp
đó cũng bị coi là vi phạm pháp luật.
Tuy nhiên, cũng
phải lưu ý rằng, không phải ngành, nghề kinh doanh có điều kiện nào cũng đòi hỏi
Giấy phép kinh doanh, mà tùy từng ngành, nghề, pháp luật sẽ yêu cầu những điều
kiện nhất định, ví dụ như giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ
hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, vốn pháp định...
Khác với hai loại
giấy ở trên, chỉ cần có đủ điều kiện luật định là có thể được cấp, Giấy phép
kinh doanh chỉ được cấp khi cơ quan Nhà nước đánh giá doanh nghiệp phù hợp với
hoạt động kinh doanh. Tức là, kể cả doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện, đủ hồ sơ
để đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh, thì Nhà nước vẫn có thể từ chối cấp.
Ngoài ra, Giấy
phép kinh doanh là loại giấy phép có thời hạn, trong khi hai loại giấy nêu trước
đó thì không có thời hạn. Thời hạn của Giấy phép kinh doanh có thể là vài tháng
hoặc vài năm tùy theo quy định cụ thể của pháp luật.
Như vậy, có thể thấy,
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là
không hoàn toàn giống nhau, và càng không giống với Giấy phép kinh doanh. Mong
rằng qua bài viết này, các bạn có thể phân biệt được 3 loại giấy tờ trên. Rất
mong nhận được sự đóng góp của các bạn!


Nhận xét
Đăng nhận xét