Nhãn hiệu được bảo hộ như thế nào?

Nhãn hiệu là thuật ngữ phổ biến, không còn xa lạ gì đối với tất cả chúng ta. Và chắc hẳn cũng nhiều người biết, nhãn hiệu cũng cần được bảo vệ bởi pháp luật. Nhưng pháp luật Việt Nam bảo hộ nhãn hiệu ra sao? Và có phải cứ đăng ký nhãn hiệu là sẽ được bảo hộ hay không? Điều này không phải ai cũng đã biết.

Sau đây, tôi muốn chia sẻ những hiểu biết của mình về cách mà nhãn hiệu được bảo hộ trong quy định của pháp luật.

Có phải nhãn hiệu nào cũng được bảo hộ hay không?

Đầu tiên, phải khẳng định rằng, không phải cứ gọi là một nhãn hiệu thì sẽ được bảo hộ. Một nhãn hiệu muốn được bảo hộ phải có đủ các điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu, được quy định tại Mục 4 Chương VII của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Những điều kiện đó bao gồm: đó phải là dấu hiệu nhìn thấy được, và nó phải có khả năng phân biệt với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác. Ngoài ra, nhãn hiệu cũng không được là các dấu hiệu trùng, tương tự, dễ gây nhầm lẫn được quy định chi tiết tại Điều 73 Luật này. Nếu không đáp ứng được các điều kiện trên, thì nhãn hiệu đó không được bảo hộ dưới góc độ pháp luật.

Những đối tượng nào thì có quyền đăng ký nhãn hiệu?

Theo Điều 87 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành (đã sửa đổi, bổ sung năm 2009), những đối tượng nào có quyền đăng ký nhãn hiệu còn phụ thuộc loại nhãn hiệu đó là gì.

Đối với nhãn hiệu thông thường, đối tượng có quyền đăng ký nhãn hiệu là tổ chức, cá nhân trực tiếp sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ hoặc cũng có thể chỉ là tổ chức, cá nhân đưa sản phẩm ra thị trường (với điều kiện nhà sản xuất đồng ý, và nhà sản xuất không sử dụng nhãn hiệu đó).

Đối với nhãn hiệu tập thể, đối tượng có quyền đăng ký nhãn hiệu là tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp và nhãn hiệu đó chỉ dành cho các thành viên của tổ chức tập thể đó sử dụng.

Đối với nhãn hiệu chứng nhận, đối tượng có quyền đăng ký nhãn hiệu là tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hóa, dịch vụ VÀ không sản xuất hàng hóa, hay cung cấp dịch vụ đó.

Như vậy có thể thấy, không phải ai cũng có quyền đăng ký nhãn hiệu, mà phải là tổ chức, cá nhân có sự liên quan nhất định đối với sản phẩm, dịch vụ mà nhãn hiệu đó đại diện cho. Nhờ quy định như vậy, việc đăng ký nhãn hiệu được quản lý chặt chẽ hơn, tránh tình trạng giả mạo, lợi dụng việc đăng ký nhãn hiệu để phục vụ mục đích xấu.


Các nguyên tắc đối với đăng ký nhãn hiệu

Khi muốn bảo hộ một nhãn hiệu, việc nhãn hiệu đó có đáp ứng đủ các điều kiện luật định không, và đối tượng đăng ký có đúng hay không vẫn chưa phải là tất cả những yếu tố để quyết định. Hai yếu tố trên chỉ có thể xác định được một nhãn hiệu có đủ điều kiện đăng ký bảo hộ hay không. Nhưng để xác định nhãn hiệu đó có được bảo hộ hay không, ta còn phải xét theo hai nguyên tắc vô cùng quan trọng: Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên và Nguyên tắc ưu tiên.

Hai nguyên tắc này sẽ được áp dụng để xem xét một đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu có được cấp văn bằng bảo hội không khi xảy ra một trong hai trường hợp sau:

Trường hợp 1: Khi có hai hay nhiều đối tượng đăng ký bảo hộ những nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhau cho các sản phẩm, dịch vụ trùng nhau hoặc tương tự với nhau;
Trường hợp 2: Khi một người đăng ký các nhãn hiệu trùng dùng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng nhau.

Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên

Theo nguyên tắc này, khi xảy ra trường hợp như đã nêu trên, thì đơn đăng ký hợp lệ nào được nộp sớm nhất hoặc có ngày ưu tiên (dựa trên nguyên tắc ưu tiên) sớm nhất thì nhãn hiệu đó sẽ được bảo hộ. Trong trường hợp thời gian nộp đơn hoặc ngày ưu tiên như nhau, thì đối với trường hợp 1, những người nộp đơn sẽ phải tự thỏa thuận để chọn ra một đơn duy nhất để cấp văn bằng bảo hộ; nếu như không chọn được, thì không có đơn nào được cấp văn bằng bảo hộ. Đối với trường hợp 2, người nộp đơn sẽ phải chọn ra một đơn để cấp văn bằng bảo hộ, nếu không chọn được thì tất cả đều bị từ chối.

Nguyên tắc ưu tiên

Nguyên tắc này được xét đến trong trường hợp người nộp đơn đã nộp đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại một quốc gia thành viên của Công ước Paris. Theo đó, nếu nhãn hiệu đó đã được đăng ký bảo hộ tại một quốc gia thành viên của Công ước Paris trước đó, thì người nộp đơn có thể yêu cầu được hưởng quyền ưu tiên.

Tuy nhiên, để được áp dụng nguyên tắc ưu tiên này, thì cần phải đáp ứng các điều kiện nhất định về nơi nộp đơn đầu tiên, người nộp đơn, nội dung đơn, thời gian nộp đơn. Các điều kiện này được quy định cụ thể tại Điều 91 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam và Điều 10 Nghị định 103/2006/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp.

Nội dung quyền ưu tiên như sau: nếu người đăng ký bảo hộ nhãn hiệu A đã nộp đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu đó tại một quốc gia khác là thành viên Công ước Paris, thì khi có một nhãn hiệu B trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu A cho các sản phẩm, dịch vụ trùng hoặc tương tự, đơn đăng ký của nhãn hiệu A sẽ được ưu tiên cấp văn bằng bảo hộ.


Trên đây là những hiểu biết của tôi về những quy định của pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam. Có thể nói, đăng ký nhãn hiệu không phải là một thủ tục đơn giản, dễ thực hiện, mà cần phải có những nghiên cứu kĩ lưỡng, nếu không sẽ dẫn đến những sai lầm gây rườm rà, mất thời gian. Do vậy, trước khi đăng ký nhãn hiệu, ta nên tìm hiểu từ những nguồn tin cậy hoặc nghe tư vấn từ luật sư để có kết quả tốt nhất.

Nhận xét