Nộp thuế là một
nghĩa vụ mà mọi cá nhân, tổ chức nào đủ điều kiện quy định trong pháp luật về
thuế đều phải nộp. Đây là một điều bắt buộc để có thể đảm bảo được nguồn thu ổn
định, thường xuyên để duy trì hoạt động của bộ máy Nhà nước.
Pháp luật về thuế
đã quy định cụ thể về các trường hợp phải nộp thuế, các trường hợp được miễn
thuế, cách tính thuế,... Tuy nhiên, vẫn có nhiều trường hợp, chủ thể nộp thuế
được hoàn thuế, tức là được trả lại số tiền thuế mình đã nộp cho Nhà nước. Đó
là những trường hợp nào? Và làm thể nào để được hoàn thuế khi mình thuộc trường
hợp hoàn thuế? Sau đây tôi xin trình bày những hiểu biết của tôi về hoàn thuế.
Khi nào thì được hoàn thuế?
Nghĩa vụ hoàn thuế
của Nhà nước được đặt ra khi người nộp thuế thuộc vào những trường hợp được
hoàn thuế theo quy định của pháp luật. Trường hợp hoàn thuế của mỗi loại thuế
khác nhau thì được quy định khác nhau. Ví dụ, một trong số các trường hợp được
hoàn thuế thu nhập cá nhân là người nộp thuế đã thực hiện nghĩa vụ này nhưng thu
nhập tính thuế của người đó lại chưa đến mức phải nộp thuế, hay một trong số
các trường hợp được hoàn thuế tiêu thụ đặc biệt là đối tượng chịu thuế là hàng
hóa tạm nhập, tái xuất. Nhìn chung, hoàn thuế được đặt ra khi chủ thể có nghĩa
vụ nộp thuế đã nộp vào Nhà nước số thuế lớn hơn số thuế phải nộp, hoặc đã nộp
thuế trong khi theo quy định trường hợp đó không phải nộp thuế. Có thể coi hoàn
thuế là sự hoàn trả của Nhà nước đối với những khoản tiền mà chủ thể nộp thuế
đã nộp thừa. Việc hoàn thuế thể hiện sự rõ ràng, minh bạch trong quản lý thuế của
Nhà nước.
Hồ sơ hoàn thuế cần những gì?
Theo Điều 58 Luật
Quản lý thuế 2006, sửa đổi năm 2012, thì hồ sơ hoàn thuế phải bao gồm Giấy đề
nghị hoàn thuế theo mẫu luật định (phần lớn trường hợp là mẫu 01/ĐNHT được ban
hành kèm theo Thông tư 156/2013/TT-BTC) và các tài liệu liên quan đến yêu cầu
hoàn thuế.
Các tài liệu liên
quan đến yêu cầu hoàn thuế đối với mỗi loại thuế và đối với mỗi trường hợp được
hoàn thuế là khác nhau, được quy định cụ thể tại Chương VII Thông tư
156/2013/TT-BTC. Ví dụ, đối với trường hợp hoàn thuế thu nhập cá nhân, thì tài
liệu liên quan đến yêu cầu hoàn thuế bao gồm: Bản chụp chứng từ liên quan, biên
lai nộp thuế, và các bản chụp đó phải có chữ ký cam kết chịu trách nhiệm của người
đại diện hợp pháp của bên trả thu nhập cho cá nhân nộp thuế.
Trình tự thực hiện thủ tục hoàn thuế
Sau khi chuẩn bị
đầy đủ hồ sơ đề nghị hoàn thuế, chủ thể nộp thuế phải nộp cho cơ quan quản lý
thuế. Hình thức nộp có thể là trực tiếp, qua đường bưu chính hoặc nộp qua giao
dịch điện tử. Công chức có thẩm quyền quản lý thuế sẽ tiếp nhận và ghi nhận
ngày nộp hồ sơ, hoặc xử lý việc tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ thông qua hệ thống xử
lý dữ liệu điện tử. Trong trường hợp hồ sơ chưa đạt yêu cầu, cơ quan quản lý sẽ
thông báo lại cho chủ thể nộp thuế trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày tiếp
nhận hồ sơ.
Khi hồ sơ đề nghị
hoàn thuế đã đầy đủ và được cơ quan quản lý thuế chấp nhận, thì việc xử lý hồ
sơ sẽ được thực hiện theo hai quy trình hoàn toàn trái ngược nhau dựa trên việc
phân loại hồ sơ:
Quy trình thứ nhất
là “hoàn thuế trước, kiểm tra sau”, áp dụng với các hồ sơ của chủ thể nộp thuế có
tính minh bạch, rõ ràng cao, thể hiện qua việc chấp hành tốt pháp luật về thuế,
đồng thời thanh toán các giao dịch thông qua hệ thống các ngân hàng thương mại
hoặc các tổ chức tín dụng khác. Đối với quy trình này, thì trong thời hạn tối
đa 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan quản lý thuế phải đưa ra quyết định
hoàn thuế, hoặc thông báo lí do không hoàn thuế, hoặc thông báo sẽ chuyển hồ sơ
sang diện “kiểm tra trước, hoàn thuế sau”.
Quy trình thứ
hai, “kiểm tra trước, hoàn thuế sau” là một quy trình mà theo đó các thông tin
trong hồ sơ hoàn thuế, cùng với số tiền được hoàn thuế phải được xem xét kỹ
càng rồi mới được quyết định xem có được hoàn thuế hay không. Do có sự kiểm tra
chi tiết như vậy, nên thời gian thực hiện quy trình này cũng lâu hơn. Trong thời
hạn tối đa 60 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan quản lý thuế sẽ phải ra quyết
định hoàn thuế, hoặc thông báo lí do không hoàn thuế.
Nếu cơ quan quản
lý thuế không đảm bảo được việc ra quyết định hoàn thuế trong thời hạn như
trên, thì sẽ phải trả thêm cho chủ thể nộp thuế khoản tiền lãi theo quy định của
Chính phủ.
Như vậy, hoàn thuế
là một hình thức mà Nhà nước trả lại cho chủ thể nộp thuế số tiền mà chủ thể đó
đã nộp thừa, hoặc đáng ra không phải nộp. Các quy định về hoàn thuế trong Luật
Quản lý thuế hiện hành và các văn bản liên quan khá là đầy đủ và hợp lý.
Trên đây là những
hiểu biết và ý kiến cá nhân của tôi, rất mong nhận được sự đóng góp của các bạn!


Nhận xét
Đăng nhận xét