Những quy định hạn chế đối với thành viên hợp danh trong công ty hợp danh theo Luật Doanh nghiệp 2014
Công ty hợp danh là
loại hình doanh nghiệp mà trong đó chủ sở hữu công ty là các thành viên hợp
danh, chịu trách nhiệm tài sản vô hạn và liên đới với nhau đối với những rủi ro
và nghĩa vụ tài sản của công ty. Chính vì thế, các thành viên hợp danh có các đặc
quyền khá lớn, bao gồm cả quyền biểu quyết đối với những quyết định hoạt động
kinh doanh của công ty, quyền đại diện cho công ty,...
Tuy nhiên, pháp luật
doanh nghiệp cũng quy định một số hạn chế nhất định đối với các thành viên hợp
danh. Các hạn chế đó được đặt ra nhằm mục đích kiểm soát, ngăn chặn các thành
viên hợp danh lợi dụng các quyền của mình để tư lợi cho bản thân. Sau đây, tôi
xin nêu ra và phân tích những hạn chế mà Luật Doanh nghiệp đã quy định đối với
thành viên hợp danh trong công ty hợp danh.
Thứ nhất, thành viên hợp danh không được thành lập doanh nghiệp tư nhân hoặc là thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác
Pháp luật đặt ra hạn
chế này bởi thành viên hợp danh cũng như chủ doanh nghiệp tư nhân đều phải chịu
trách nhiệm tài sản vô hạn đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của
công ty, doanh nghiệp. Như vậy, nếu một thành viên hợp danh của công ty hợp
danh A lại đồng thời là chủ doanh nghiệp tư nhân B hay thành viên hợp danh của
công ty hợp danh B, thì khi công ty/ doanh nghiệp B thua lỗ, thành viên hợp
danh đó sẽ phải chịu trách nhiệm tài sản bằng tất cả những gì mình có. Việc đó ảnh
hưởng rất lớn đến hoạt động và số vốn của công ty hợp danh A. Để tránh những
tình huống như vậy, việc giới hạn thành viên hợp danh không được lập doanh nghiệp
tư nhân, không được làm thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác như vậy
là hoàn toàn hợp lý.
Thứ hai, thành viên hợp danh không được nhân danh bất kì ai, kể cả chính mình để kinh doanh cùng ngành, nghề với công ty hợp danh đó để nhằm phục vụ lợi ích của cá nhân, tổ chức khác không phải là công ty hợp danh đó
Như vậy, pháp luật
doanh nghiệp đã dự liệu trường hợp thành viên hợp danh lợi dụng hoạt động kinh
doanh của công ty để trục lợi cho bản thân hoặc để phục vụ cho lợi ích của chủ
thể khác. Với những đặc quyền mà thành viên hợp danh được nhận, thì việc lợi dụng
này hoàn toàn có thể được thực hiện dễ dàng.
Thành viên hợp danh
có thể kinh doanh những ngành, nghề khác hoặc những ngành, nghề liên quan đến
ngành nghề của công ty. Thành viên hợp danh cũng có thể kinh doanh cùng ngành,
nghề với công ty trong trường hợp điều đó là nhằm phục vụ lợi ích của công ty.
Thứ ba, thành viên hợp danh chỉ được chuyển nhượng phần vốn góp của mình (một phần hoặc toàn bộ) khi được sự đồng ý của các thành viên hợp danh khác
Đây là một sự ràng
buộc giữa các thành viên hợp danh trong công ty hợp danh. Đây cũng là một hạn
chế hợp lý bởi việc thành lập và quản lý công ty hợp danh đều do các thành viên
hợp danh cùng nhau thực hiện. Việc rút vốn của một thành viên hợp danh có thể
gây ảnh hưởng đến việc điều hành công ty của các thành viên khác.
Ngoài ra, quy định
này cũng nhằm hạn chế trường hợp thành viên góp vốn “chạy trước” khi công ty gặp
khó khăn. Bởi trách nhiệm của các thành viên hợp danh là trách nhiệm vô hạn,
nên nếu một thành viên hợp danh tự động rút vốn khi công ty gặp khó khăn thì sẽ
để lại hậu quả rủi ro rất lớn cho các thành viên hợp danh còn lại.
Như vậy, những quy
định hạn chế đối với thành viên hợp danh đều nhằm bảo vệ hoạt động của công ty
hợp danh và quyền lợi hợp pháp của các thành viên hợp danh khác.
Trên đây là phân
tích về những hạn chế đối với các thành viên hợp danh trong công ty hợp danh. Rất
mong nhận được những nhận xét, đóng góp của các bạn!

Nhận xét
Đăng nhận xét